Sau 22 ngày kể từ khi ghép tế bào gốc tạo máu tự thân, người bệnh N.T.Đ, 41 tuổi, ở Phú Xuyên, Hà Nội, đã phục hồi chức năng tủy xương hoàn toàn và đủ điều kiện xuất viện sau quá trình điều trị và theo dõi tại Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Phúc. Kết quả này đánh dấu ca ghép tế bào gốc tạo máu tự thân thứ hai được triển khai thành công liên tiếp tại bệnh viện, tiếp nối kinh nghiệm từ ca ghép đầu tiên và cho thấy những bước tiến vượt bậc trong tổ chức thực hiện, phối hợp chuyên môn và làm chủ kỹ thuật điều trị chuyên sâu theo dõi người bệnh sau ghép.

Đằng sau kết quả của ca bệnh là quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng, nhận diện sớm các nguy cơ và thách thức chuyên môn từ trước và theo dõi sát diễn biến trong từng giai đoạn điều trị. Đây cũng là những kinh nghiệm thực tiễn quan trọng để bệnh viện tiếp tục hoàn thiện quy trình và nâng cao khả năng triển khai kỹ thuật chuyên sâu.

Từ quá trình điều trị kéo dài đến chỉ định ghép tế bào gốc tự thân

Tháng 11/2025, người bệnh N.T.Đ được chẩn đoán mắc Đa u tủy xương, IgG-Kappa, giai đoạn RISS I, xếp nhóm nguy cơ cao do có tổn thương u tương bào ngoài tủy kích thước lớn tại xương cánh chậu phải phá vỡ vỏ xương và xâm lấn phần mềm lân cận. Đây là bệnh lý ác tính của tương bào, có thể gây tổn thương tủy xương và hệ xương, đòi hỏi quá trình điều trị và theo dõi lâu dài.

Sau khi được chẩn đoán, người bệnh trải qua các đợt điều trị tấn công bằng phác đồ hóa trị phối hợp thuốc điều hòa miễn dịch (VCD-R), kết hợp xạ trị tại u tương bào xương chậu, sau đó tiếp tục điều trị củng cố theo phác đồ VRD và đạt lui bệnh hoàn toàn trước khi ghép (CR1). Trên cơ sở đánh giá tình trạng bệnh và khả năng đáp ứng điều trị, người bệnh được chỉ định ghép tế bào gốc tạo máu tự thân.

Đây là phương pháp sử dụng tế bào gốc tạo máu của chính người bệnh, được huy động bằng G-CSF liều chuẩn và gạn tách từ máu ngoại vi (thu hoạch đạt 3,55x 10^6 tế bào CD34⁺/kg thể trọng), bảo quản lưu giữ đạt chuẩn, sau đó truyền trở lại sau khi điều kiện hóatủy bằng hóa trị liều cao chuẩn Melphalan 200 mg/m² da. Mục tiêu là tiêu diệt triệt để tế bào ác tính tồn dư và tái lập hệ thống tạo máu khỏe mạnh, qua đó kéo dài tối đa thời gian sống không tiến triển bệnh (PFS) và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh.

Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp giữa các khâu chuẩn bị, thu thập tế bào gốc, điều trị trước ghép, thực hiện ghép và chăm sóc sau ghép. Mỗi giai đoạn đều cần được theo dõi chặt chẽ để phát hiện sớm những bất thường và xử trí kịp thời.

Chủ động kiểm soát nguy cơ và thách thức chuyên môn trong quá trình điều trị

Sau ghép tế bào gốc tự thân, người bệnh trải qua giai đoạn suy tủy sâu (bạch cầu hạt trung tính ANC < 0,1 G/L và tiểu cầu giảm nặng) do tác động của phác đồ điều kiện hóa liều cao Melphalan 200 mg/m². Đây là thời điểm then chốt, người bệnh đối mặt với nguy cơ sốt giảm bạch cầu hạt, nhiễm trùng cơ hội đa tác nhân, xuất huyết giảm tiểu cầu và các độc tính niêm mạc đường tiêu hóa.

Từ ca ghép đầu tiên, ê-kíp đã có thêm kinh nghiệm thực tế trong theo dõi và xử trí những biến chứng nhiễm trùng cơ hội phức tạp, trong đó có tái hoạt virus CMV, nhiễm nấm đường tiêu hóa và viêm phổi. Những kinh nghiệm này là cơ sở để tiếp tục rà soát các nguy cơ, chuẩn bị phương án theo dõi và chăm sóc phù hợp cho ca ghép tiếp theo.

Ở người bệnh N.T.Đ, một số yếu tố thách thức chuyên môn đặc thù cần được lưu ý gồm: bệnh nhân trẻ tuổi, thuộc nhóm nguy cơ cao; tiền sử xạ trị vùng xương chậu làm tủy xương mỡ hóa hơn 80%, khiến nguồn tế bào gốc thu thập được không cao (3,55 x 10^6 tế bào CD34⁺/kg); tiền sử viêm mũi xoang mạn tính và kết quả xét nghiệm huyết thanh có Anti-HBc dương tính tiềm ẩn nguy cơ tái hoạt bùng phát viêm gan B tối cấp trong giai đoạn ức chế miễn dịch sâu.

Vì vậy, bên cạnh việc theo dõi sát tình trạng lâm sàng và các chỉ số xét nghiệm, ê-kíp đã chủ động điều trị dự phòng thuốc kháng virus Entecavir liên tục từ trước khi điều kiện hóa, kết hợp phòng ngừa nhiễm trùng (kháng sinh, kháng nấm, kháng virus). Việc đánh giá nguy cơ ngay từ trước ghép giúp quá trình theo dõi sau ghép có trọng tâm, phù hợp hơn với đặc điểm của từng người bệnh.

Qua ca bệnh này, kinh nghiệm không chỉ nằm ở việc thực hiện các bước kỹ thuật mà còn ở khả năng tiên lượng chuẩn xác, cá thể hóa phác đồ điều trị, phối hợp hồi sức huyết học chuyên sâu trong suốt quá trình điều trị.

Người bệnh phục hồi thuận lợi, đủ điều kiện xuất viện sau 22 ngày

Trong quá trình theo dõi sau ghép, các chỉ số huyết học phục hồi rất ấn tượng. Mảnh ghép bạch cầu hạt mọc sớm ở ngày D+11 (ANC đạt 0,5 G/L). Đến ngày D+20 sau ghép, các dòng tế bào máu ngoại vi đã hồi phục gần như bình thường: hemoglobin đạt 122 g/L, số lượng bạch cầu đạt 9,34 G/L (trong đó bạch cầu hạt trung tính ANC đạt 7,51 G/L). Số lượng tiểu cầu tự phục hồi đạt 76 G/L (ngày D+20), có xu hướng tăng đều và người bệnh hoàn toàn không phụ thuộc vào truyền chế phẩm máu, không xuất hiện bất kỳ biểu hiện xuất huyết nào.

Ban giám đốc Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Phúc chúc mừng người bệnh và ekip ghép tế bào gốc thành công

Chức năng gan, thận trong giới hạn bình thường, chỉ số viêm trong ngưỡng an toàn. Các kết quả xét nghiệm được đánh giá cùng diễn biến lâm sàng để theo dõi khả năng phục hồi và kịp thời phát hiện những dấu hiệu bất thường.

Về tình trạng sức khỏe, người bệnh tỉnh táo, ăn uống tốt, thể trạng cải thiện rõ rệt; tình trạng kích ứng đường tiêu hóa và mệt mỏi sau hóa trị liều cao Melphalanđã hếthoàn toàn. Các vấn đề cần theo dõi liên quan đến tiền sử viêm xoang mạn tính và nguy cơ tái hoạt virus viêm gan B tiếp tục được kiểm soát an toàn theo kế hoạch điều trị.

Sau 22 ngày điều trị và theo dõi, căn cứ vào tình trạng lâm sàng cùng kết quả đánh giá chuyên môn, người bệnh đủ điều kiện xuất viện.

Sau xuất viện, người bệnh vẫn cần tái khám đúng hẹn, tiếp tục duy trì thuốc kháng virus Entecavir, đánh giá bệnh tồn dư tối thiểu (MRD) và cân nhắc phác đồ điều trị duy trì, theo đúng Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh lý Huyết học của Bộ Y tế năm 2025. Đây là bước tiếp nối cần thiết để theo dõi tình trạng bệnh, đánh giá kết quả điều trị và phát hiện sớm những vấn đề có thể xuất hiện trong thời gian tiếp theo.

Từ kinh nghiệm thực tiễn đến từng bước củng cố năng lực chuyên môn

Đánh giá về ca ghép thứ hai, TTƯT. BSCKII. Lê Văn Tịnh cho biết, “Sau thành công của ca ghép đầu tiên, sự hỗ trợ chuyên môn chặt chẽ từ các chuyên gia Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương cùng quyết tâm của tập thể y bác sĩ đã giúp ê-kíp tiếp tục làm chủ ca bệnh thứ hai một cách bài bản, an toàn và đạt hiệu quả lâm sàng tối ưu. Điều này chứng minh năng lực tự chủ kỹ thuật ghép tế bào gốc tạo máu của bệnh viện”.

Thực tế triển khai hai ca ghép cho thấy quá trình phát triển kỹ thuật chuyên sâu cần được xây dựng qua từng bước cụ thể: chuẩn bị người bệnh, tổ chức các khâu chuyên môn, phối hợp giữa các bộ phận, theo dõi sát diễn biến sau ghép và chủ động xử trí các nguy cơ. Những kinh nghiệm từ mỗi trường hợp giúp ê-kíp có thêm cơ sở để rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện cách thức triển khai trong các ca tiếp theo.

Đối với Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Phúc, ca ghép thứ hai không chỉ là việc tiếp tục thực hiện một kỹ thuật đã triển khai mà còn là dịp kiểm nghiệm khả năng vận dụng kinh nghiệm từ ca trước vào một trường hợp có những yếu tố nguy cơ riêng. Kết quả điều trị thuận lợi và việc người bệnh đủ điều kiện xuất viện là những dữ kiện thực tế ghi nhận nỗ lực của ê-kíp trong quá trình thực hiện kỹ thuật.

Trên cơ sở đó, bệnh viện tiếp tục chú trọng đào tạo, cập nhật chuyên môn, phối hợp với các chuyên gia và cơ sở y tế tuyến trên, đồng thời hoàn thiện quy trình thực hiện và theo dõi sau ghép. Đây là quá trình cần được duy trì thường xuyên nhằm nâng cao chất lượng điều trị và đưa kỹ thuật ghép tế bào gốc tạo máu trở thành phương pháp điều trị thường quy tại địa phương, giúp người bệnh tiếp cận phác đồ chuẩn quốc tế ngay tại tuyến tỉnh mà không phải chuyển tuyến trên.

Ca ghép thứ hai khép lại một giai đoạn điều trị của người bệnh, đồng thời bổ sung thêm kinh nghiệm thực tiễn cho ê-kíp. Việc tích lũy kinh nghiệm qua từng trường hợp, gắn với đánh giá kết quả và hoàn thiện quy trình, là cơ sở quan trọng để Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Phúc tiếp tục phát triển kỹ thuật ghép tế bào gốc tạo máu tự thân, phục vụ tốt hơn nhu cầu điều trị của người bệnh.