Lún xẹp cột sống có loãng xương thường không gây tử vong nhưng gây lên những tổn thương nặng nề về sức khỏe, kinh tế cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh.
*Nhóm tác giả: Nguyễn Thanh Nam, Lê Văn Tịnh, Đinh Văn Hải, Hà Ngọc Linh và Cộng sự Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
Lún xẹp cột sống có loãng xương thường không gây tử vong nhưng gây lên những tổn thương nặng nề về sức khỏe, kinh tế cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh. Theo nghiên cứu về loãng xương cột sống ở Châu Âu (EVOS), ở tuổi 75-79, tỷ lệ xẹp thân đốt sống do loãng xương mỗi năm là 13,6 trên 1000 người đối với nam, và 29,3 đối với nữ. Ở Mỹ, mỗi năm phải bỏ ra một khoản chi phí khổng lồ (khoảng 17,9 tỷ đô la) để điều trị gãy xương do loãng xương, còn tại Anh quốc là khoảng 1,7 tỷ bảng Anh. Ở Việt Nam, trong một nghiên cứu 4200 người tại thành phố Hồ Chí Minh có 45% người trên 50 tuổi, trong số này có tới 14% nữ và 5% nam được chẩn đoán loãng xương2.
Năm 1984, tại Pháp, Herve Deramond đã đánh dấu bước tiến lớn trong điều trị xẹp thân đốt sống khi đề ra phương pháp tạo hình đốt sống bằng bơm xi măng sinh học. Ở Việt Nam, nhờ sự giúp đỡ của Giáo sư Herve Deramond, khoa Chẩn đoán hình ảnh – Bệnh viện Bạch Mai là đơn vị đầu tiên áp dụng kỹ thuật này. Đến nay kỹ thuật đã được triển khai rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới và các trung tâm, bệnh viện lớn tại Việt Nam và mang lại hiệu quả rõ rệt2.
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành bơm xi măng sinh học cho một số trường hợp xẹp thân đốt sống do loãng xương dưới sự hướng dẫn của chuyên gia tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức và có kết quả tốt. Trước nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn tỉnh, đặc biệt trong lĩnh vực phẫu thuật và sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật cao, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc triển khai đề tài cấp tỉnh 2022-2024 làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp nhân rộng quy trình kỹ thuật: “Nghiên cứu, đánh giá tạo hình thân đốt sống bằng bơm cement sinh học điều trị người bệnh xẹp đốt sống có loãng xương tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc” với 04 mục tiêu:
Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng ứng dụng bơm xi măng sinh học điều trị người bệnh xẹp thân đốt sống có loãng xương trên Thế giới và Việt Nam.
Mục tiêu 2: Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và đánh giá hiệu quả ứng dụng kỹ thuật điều trị người bệnh xẹp thân đốt sống có loãng xương bằng bơm xi măng sinh học tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc.
Mục tiêu 3: Xây dựng quy trình kỹ thuật điều trị người bệnh xẹp thân đốt sống có loãng xương bằng bơm xi măng sinh học tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc.
Mục tiêu 4: Đề xuất giải pháp, nhân rộng kết quả nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Nghiên cứu thực hiện đánh giá hiệu quả ứng dụng kỹ thuật ở 80 người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc với tổng số đốt sống được tạo hình là 108. Nghiên cứu được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nội dung và kinh phí theo quy định hiện hành. Thông tin người bệnh được mã hóa, giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu có tuổi trung bình 76,68±8,87. Xẹp đốt sống do loãng xương chủ yếu xuất hiện ở nhóm đối tượng người bệnh trên 70 tuổi. Kết quả nghiên cứu này tương đương với nghiên cứu của Đoàn Anh Tuấn, tuy nhiên cao hơn so với một số nghiên cứu khác của Karmakar, Khúc Văn Trung 3,4,5. Trong nghiên cứu của chúng tôi có sự phân bố không đồng đều về giới tính, người bệnh nữ chiếm đa số với 76,2%, kết quả này tương đương với một số nghiên cứu của Nguyễn Thế Điệp tại BVĐK tỉnh Thái Bình năm 2023, Khúc Trung Văn năm 2018 và nghiên cứu Karmakar và cộng sự 2014 6,5,4.
Một số triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của nhóm đối tượng nghiên cứu được đánh giá tại biểu đồ dưới đây:
| Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều có triệu chứng đau tại chỗ trong đó tỷ lệ đau âm ỉ chiếm 67,5%; tỷ lệ có đau dữ dội chiếm 32,5%. |
Biểu đồ 3.1. Triệu chứng đau của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1. Một số triệu chứng lâm sàng khác của đối tượng nghiên cứu
Có 36 (45%) đối tượng nghiên cứu có triệu chứng lâm sàng đau tại chỗ; Có tới 68 (85%) có rối loạn vận động; Tuy nhiên, mới chỉ có 2 (2,5%) có biến dạng cột sống gù; khi đối tượng nghiên cứu sử dụng thuốc giảm đau chỉ có 36 (45%) đối tượng nghiên cứu cảm thấy đỡ khi sử dụng thuốc giảm đau. Có sự khác biệt khi so sánh với nghiên cứu của Sambrook và Đỗ Mạnh Hùng 7,8.
Bảng 3.2. Phân bố thang điểm VAS của đối tượng nghiên cứu trước điều trị


